NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THÚ Y 2015

15/08/2016 15:11 Số lượt xem: 3004

Luật Thú y số 79/2015/QH13  do Quốc hội ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Luật bao gồm 7 Chương và 116 Điều, quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y. Dựa trên nội dung của Luật thú y mới, Chi cục Thú y Bắc Ninh tổng hợp, biên soạn và giới thiệu một số quy định mới so với Pháp lệnh thú y năm 2004 như sau:

 

1. Chính sách của Nhà nước về hoạt động thú y (Điều 5)

Để ghi nhận hoạt động của ngành thú y, lần đầu tiên nhà nước công nhận những người tham gia  hoạt động thú y theo yêu cầu của cơ quan nhà nước mà bị lây nhiễm bệnh, bị thương, bị chết được xem xét hưởng chế độ chính sách như đối với thương binh, liệt sỹ theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.

2. Quy định về hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành thú y (Điều 6)

Luật đưa ra điểm mới quy định chế độ chính sách đối với nhân viên thú y ở xã, phường và thị trấn (hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị định 35/NĐ-CP ngày 15/5/2016).

3. Quy định những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 13)

Để bảo đảm công tác quản lý thú y, tạo cơ sở cho việc định ra các hành vi và hình thức xử phạt vi phạm, Luật Thú y đã bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm như che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh, chết do bệnh truyền nhiễm làm lây lan dịch bệnh động vật; khai báo, lập danh sách, xác nhận không đúng số lượng, khối lượng động vật mắc bệnh, chết, sản phẩm động vật nhiễm bệnh phải tiêu hủy; khai báo, xác nhận không đúng số lượng, khối lượng vật tư, hóa chất để phòng, chống dịch bệnh động vật với mục đích trục lợi; không thực hiện việc thông báo, công bố dịch bệnh động vật trong trường hợp phải thông báo, công bố theo quy định của Luật này; thông tin không chính xác về tình hình dịch bệnh động vật; không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch bệnh động vật. 

4. Đối xử nhân đạo với động vật (Điều 21)

Đây là một nội dung hoàn toàn mới, được bổ sung trong Luật để phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Hiện nay, khi Việt Nam đã tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự giao lưu, trao đổi, thông thương động vật, sản phẩm động vật được mở rộng, không còn bó hẹp trong một số thị trường như trước thì việc pháp luật về thú y bổ sung các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, huấn luyện, nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ cũng là một điểm tích cực về chính sách, thể hiện rõ nét quan điểm, chủ trương hội nhập của Việt Nam.

5. Quy định trách nhiệm trong xử lý ổ dịch bệnh động vật trên cạn (Điều 25)

Luật quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước như: UBND các cấp (cấp xã, phường, thị trấn, cấp huyện và cấp tỉnh), các tổ chức cá nhân có liên quan (chủ vật nuôi, nhân viên thú y xã, phường và thị trấn) trong việc phòng, chống dịch bệnh động vật như khai báo, chẩn đoán bệnh, điều tra dịch bệnh; xử lý ổ dịch nhỏ lẻ, công bố dịch, tổ chức chống dịch trong vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp, vùng đệm.

6. Thẩm quyền công bố dịch bệnh động vật trên cạn (Điều 26)

Luật phân cấp thẩm quyền công bố dịch cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, tạo điều kiện để địa phương chủ động phòng, chống dịch bệnh được hiệu quả, thuận tiện và nhanh chóng bảo đảm khống chế được dịch ngay khi mới phát sinh trên địa bàn, giảm thiệt hại cho người chăn nuôi.

7. Quy định chung về kiểm dịch động vật trên cạn (Điều 37)

Điểm mới của Luật là sửa đổi quy định về nguyên tắc kiểm dịch động vật, không còn dựa trên “số lượng lớn, khối lượng lớn” như Pháp lệnh năm 2004. Việc kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật được thực hiện kiểm soát theo mối nguy cơ về dịch bệnh động vật và có các quy định theo hướng mở đối với việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật trên cạn ra khỏi tỉnh.

8. Trình tự kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn vận chuyển ra khỏi địa bàn cấp tỉnh (Điều 39)

Đối với động vật, sản phẩm động vật xuất phát từ cơ sở đã được công nhận an toàn dịch bệnh hoặc từ cơ sở đã được phòng bệnh bằng vắc xin và cơ sở chăn nuôi tham gia chương trình giám sát dịch bệnh. Khi vận chuyển ra khỏi tỉnh, chủ cơ sở chỉ cần thông báo cho cơ quan quản lý chuyên ngành thú y để được cấp giấy chứng nhận kiểm dịch trước khi vận chuyển không phải làm thủ tục kiểm dịch. Đây là một điểm mới đột phá của Luật Thú y nhằm tạo điều kiện thông thoáng trong việc lưu thông động vật, sản phẩm động vật trong nước, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thú y, tránh gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

9. Phân tích nguy cơ nhiễm bệnh của động vật, sản phẩm động vật trên cạn nhập khẩu (Điều 43)

Các nội dung quy định mới tại điều này được xây dựng đúng nguyên tắc theo thông lệ quốc tế về kiểm dịch động vật và đảm bảo tính minh bạch theo quy định của Hiệp định (SPS) và hướng dẫn Luật Thú y động vật trên cạn của Tổ chức thú y Thế giới (OIE) như động vật, sản phẩm động vật trên cạn thuộc diện phân tích nguy cơ trước khi nhập khẩu vào Việt Nam, nhằm bảo vệ đàn vật nuôi trong nước cũng như sự xâm nhập dịch bệnh từ nước ngoài vào Việt Nam. Căn cứ vào kết quả phân tích nguy cơ, Cục Thú y quyết định việc nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật.

10. Yêu cầu đối với động vật, sản phẩm động vật trên cạn nhập khẩu (Điều 44)

Trong trường hợp cần thiết, Cục Thú y giám sát quá trình cách ly kiểm dịch; kiểm tra, đánh giá hệ thống quản lý, giám sát dịch bệnh động vật, vệ sinh thú y tại nước xuất khẩu.

11. Trách nhiệm và quyền hạn của Cục Thú y (Điều 59)

Đây là một nội dung mới nhằm tạo sự bình đẳng và tham gia sâu rộng vào giao lưu thương mại  động vật, sản phẩm động vật của Việt Nam với các nước trên thế giới như đánh giá phân tích nguy cơ dịch bệnh khi xuất, nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật vào Việt Nam. Nội dung của điều này quy định trách nhiệm và nghĩa vụ cụ thể của Việt Nam như quyết định các biện pháp xử lý; giám sát việc xử lý động vật, sản phẩm động vật thuộc diện phải kiểm dịch xuất khẩu, nhập khẩu không đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y; phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý động vật, sản phẩm động vật thuộc diện phải kiểm dịch vô chủ, không rõ nguồn gốc từ nước ngoài vào Việt Nam; phối hợp với cơ quan thú y có thẩm quyền của nước xuất khẩu động vật, sản phẩm động vật để thực hiện việc kiểm tra tại nước xuất khẩu hoặc yêu cầu kiểm dịch theo quy định của nước nhập khẩu tại Việt Nam; cung cấp các thông tin về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật cho các nước có liên quan khi được yêu cầu. Về quyền hạn có quyền từ chối cho phép nhập khẩu vào Việt Nam động vật, sản phẩm động vật không đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y; được thông báo kết quả tình hình dịch bệnh tại nước xuất khẩu; đánh giá và phân tích rủi ro trước khi cho phép nhập khẩu.

12. Yêu cầu đối với giết mổ động vật trên cạn để kinh doanh (Điều 64)

Luật quy định việc giết mổ động vật phải được thực hiện tại cơ sở giết mổ tập trung và phải có sự kiểm soát của cơ quan thú y; trừ trường hợp tại các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn mà chưa có cơ sở giết mổ tập trung, luật mới cho phép được thực hiện tại cơ sở giết mổ nhỏ, lẻ. Cơ sở giết mổ nhỏ lẻ phải đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y và do ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.

13. Quy định chung về quản lý thuốc thú y (Điều 78)

Luật quy định thuốc thú y phải được quản lý và bảo đảm chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật mới được cơ quan thú y cấp Giấy chứng nhận lưu hành trên thị trường, đồng thời quy định rút ngắn thời gian giải quyết, đơn giản hóa hồ sơ, cắt giảm thủ tục giấy tờ và nâng thời hạn của các loại giấy chứng nhận lưu hành thuốc thú y, giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, buôn bán, xuất nhập khẩu thuốc thú y đều có thời hạn 05 (năm).

14. Luật quy định tương đối chi tiết trên các lĩnh vực, khi có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 áp dụng được ngay, không chờ Nghị định và Thông tư hướng dẫn.

Luật thú y ra đời sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng tạo điều kiện thông thoáng trong việc quản lý, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật trên phạm vi cả nước, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển bền vững.

Nguyễn Thị Hồng Minh
Nguồn: CHI CỤC CNTY BẮC NINH